DANH MỤC

Một số quy định của pháp luật về hình thức di chúc

Một số quy định của pháp luật về hình thức di chúc

Di chúc là một trong những hình thức để lại tài sản, ý nguyện của người đã mất cho những người có liên quan. Di chúc sẽ có một kết cấu nhất định, và các loại hình di chúc được pháp luật thừa nhận gồm có:

Di chúc miệng: Chúc ngôn hay còn được gọi với tên gọi khác là di chúc miệng, là sự bày tỏ ý nguyện của người để lại di chúc khi còn sống nhằm mục đích phân chia tài sản của mình cho những người khác sau khi mình chết.

Bản di chúc miệng chỉ được pháp luật công nhận khi người lập di chúc phải ở tình trạng nguy kích, không đủ sức khỏe cũng như thời gian để lập bản di chúc viết tay được. Người lập di chúc khi để hiện ý chí cuối cùng trước mặt ít nhất phải từ hai người làm chứng trở lên. Người làm chứng sẽ chép lại và kí tên hoặc điểm chỉ vào bản viết đó. Sau thời hạn 5 ngày kể từ ngày tuyên bố ý chí, di chúc nếu không được công chứng, chứng thực hoặc sau 3 tháng kể từ ngày lập di chúc miệng, nếu người lập di chúc còn sống, minh mẫn thì bản di chúc viết lại và di chúc miệng sẽ không có hiệu lực, mặc nhiên bị hủy bỏ theo điều 651 Bộ luật dân sự 2005 quy định.

Tại một số nước như Pháp thì luật pháp không thừa nhận tính hợp pháp của di chúc miệng. Theo luật Pháp hình thức di chúc bao gồm 3 dạng là: di chúc viết tay, công chứng thư và di chúc bí mật (Điều 969).

Một số quy định của pháp luật về hình thức di chúc

Một số quy định của pháp luật về hình thức di chúc

Di chúc bằng văn bản: Đây là loại di chúc phổ biến, được thể hiện dưới dạng chữ viết (Có thể viết tay hoặc đánh máy, in) Có chứng nhận hoặc không có chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Theo như quy định của pháp luật thì tất cả những bản di chúc văn bản phải đáp ứng các yêu cầu chung về nội dung cũng như hình thức cụ thể của di chúc phải tuân thủ theo một trình tự tương ứng. Để bản di chúc thể hiện bằng hình thức văn bản có hiệu lực pháp luật người lập di chúc cần đáp ứng các yêu cầu về nội dung như sau:

  • Di chúc phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập di chúc
  • Di chúc phải ghi rõ họ tên, nơi cư trú của người lập di chúc
  • Di chúc phải ghi rõ họ, tên người, tên cơ quan, tổ chức được hưởng di sản
  • Di chúc phải ghi rõ di sản và nơi có di sản.
  • Di chúc phải ghi rõ việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ
  • Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng kí hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ kí hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Vì lí do di chúc là thể hiện ý chí của người đã chết, chính vì thế để di chúc được rõ ràng và cụ thể. Tránh phát sinh tranh chấp giữa những người thừa kế thì người lập di chúc không được viết tắt hoặc sử dụng kí hiệu để biểu đạt ý chí của mình trong di chúc.

Đối với trường hợp bản di chúc có nhiều trang thì yêu cầu người lập di chúc phải đánh số từng trang, Sau đó sẽ tiến hành kí tên điểm chỉ từng trang. Nhằm tránh tình trạng thêm bớt nội dung trong bảng di chúc.

Di chúc bằng văn bản gồm các loại sau:

  • Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng: Loại di chúc này đã được quy định tại điều 655 Bộ luật dân sự 2005 như sau: “Người lập di chúc phải tự viết tay và kí vào bản di chúc. Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 653 của bộ luật này”
  • Di chúc bằng văn bản có người làm chứng: “Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc thì có thể nhờ người khác viết nhưng phải có ít nhất hai người làm chứng. Người lập di chúc phải kí hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ kí, điểm chỉ của người lập di chúc và kí vào bản di chúc. Việc lập di chúc phải tuân theo quy định tại Điều 653 và Điều 654 của bộ luật này”( Điều 655).
  • Di chúc bằng văn bản có chứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhân của công chứng nhà nước (quy định cụ thể tại Điều 658)

Ngoài các trường hợp trên thì theo Điều 660 Bộ luật dân sự 2005 còn quy định một số  di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc đã được chứng nhận, chứng thực. Pháp luật dân sự Việt Nam đã dự liệu các trường hợp người lập di chúc không thể đến các cơ quan công chứng hoặc UBND để chứng thực, chứng nhận di chúc, thì nhứng người có thẩm quyền chứng nhận theo quy định tại Điều 660 của Bộ luật dân sự 2005 như sau:

  • Đối với quân nhân đang hoạt động thì cần có giấy xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội trở lên.
  • Đối với những người đang đi trên tàu biển, máy bay thì cần có xác nhận của người chỉ huy phương tiện đó.
  • Di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dướng khác có xác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó.
  • Di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng rừng núi hải đảo có xác nhận của người phụ trách đơn vị
  • Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước đó
  • Di chúc của người đang bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có xác nhận của người phụ trách cơ sở đó.Do tính chất của hoạt động tố tụng nên những người đang bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh không thể tự do đi lại được. Vì thế nếu những người này muốn lập di chúc thì chỉ cần trong di chúc có xác nhận của người phụ trách cơ sở đó là có giá trị pháp lý.

Trên đây là những quy định về vấn đề lập di chúc, quý khách có thể tham khảo để có thể nắm bắt được việc khai nhận di sản thừa kế của mình đã đúng hay chưa. Quý khách có thể tham khảo thêm về khai nhận di sản thừa kế theo di chúc.

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

© 2013 Bản quyền của Nguyễn Trần & Cộng Sự