DANH MỤC

Hỏi đáp về vấn đề khiếu nại lấy lại thừa kế

Hỏi đáp về vấn đề khiếu nại lấy lại thừa kế

Hỏi:

Ba mẹ tôi trước đây có một số đất nông nghiệp tại khu vực Tân An (Long An). Năm 1970 vì chiến tranh chưa dứt nên ba mẹ tôi không thể canh tác được, đã giao lại cho một người hàng xóm canh tác. Sau một thời gian thì những người này đã chiếm đoạt đất đai của cha mẹ tôi, sự việc đã được trình bày với cơ quan chức năng địa phương từ những năm đầu 1975 để xin được giải quyết. Nhưng không có phản hồi từ phía cơ quan chức năng. Đến năm 2000, ba tôi qua đời, không lâu sau thì mẹ cũng mất. Và chúng tôi đã phải mua lại mảnh đất từ tay những người chiếm đất của mình để chôn cất ba mẹ tôi. Khi có dịp về quê tôi đã đến ủy ban nhân dân Huyện để trình bày về vấn đề của mình thì cán bộ cho biết vì chúng tôi bỏ chạy lên Sài Gòn nên toàn bộ tài sản nhà nước đã hợp thức hóa bằng một luật lệ nào đó cho những người được chúng tôi nhờ canh tác. Tôi xin phép hỏi luật sư: Trong trường hợp trên thì chúng tôi có được xác định là những người thừa kế đối với di sản mà ba mẹ tôi để lại và chúng tôi có thể khiếu nại để lấy lại các tài sản bất động sản đó không.

Hỏi đáp về vấn đề khiếu nại lấy lại thừa kế

Hỏi đáp về vấn đề khiếu nại lấy lại thừa kế

Hỗ trợ tư vấn:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến văn phòng luật thừa kế Nguyễn Trần. Đối với trường hợp của bạn chúng tôi sẽ tư vấn như sau:

Căn cứ vào các dữ liệu mà anh cung cấp thì sẽ có 3 trường hợp có thể xảy ra:

TH1: Nhà nước có quyết định thu hồi đất đó và quyết định giao cho người khác sử dụng.

TH2: Nhà nước không có quyết định thu hồi đất nhưng lại có quyết định giao đất cho người khác.

TH3: Nhà nước không có quyết đinh thu hồi cũng như giao đất cho người khác. Vì do đất bỏ hoang nên bị người khác chiếm dụng.
Đối với trường hợp 1 và 2: Căn cứ khoản 2 Điều 10 Luật đất đai năm 2003 quy định: “Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Do đó nếu thuộc hai trường hợp đầu thì không còn là di sản thừa kế của ba mẹ anh nữa và anh không thể lấy lại diện tích đất này.
Riêng đối với trường hợp 3: Nếu ruộng đất của ba mẹ anh chưa bị Nhà nước thu hồi, quản lý hoặc giao cho người khác quản lý mà do những người mượn đất để canh tác xưa kia tự ý chiếm sử dụng mặc dù gia đình ông đã đòi lại đất thì gia đình ông có thể đòi lại đất nếu có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Cụ thể phải có giấy tờ và đất đó được coi là di sản thừa kế. Xem thêm về khai nhận di sản thừa kế đối với bất động sản
Căn cứ tiểu mục 1.2 mục 1 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ngày 10/8/2004 hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình quy định: “Đối với trường hợp đất do người chết để lại mà người đó có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật đất đai năm 2003, thì kể từ ngày 01/7/2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sản, không phụ thuộc vào thời điểm mở thừa kế”.
Theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 50 Luật đất đai năm 2003 thì “giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất” cũng được coi là giấy tờ hợp lệ. Như vậy, nếu có giấy tờ của chế độ cũ cấp cho bố mẹ anh thì đất đó trở thành di sản thừa kế của bố mẹ ông để lại cho ông và các anh em (nếu có) là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 679 Bộ luật dân sự(1) đối với trường hợp thừa kế theo pháp luật khi người chết không để lại di chúc.
Căn cứ Điều 136 Luật đất đai năm 2003 thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai được xác định như sau:
– Trường hợp đất canh tác đó chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc người đang sử dụng đất có các giấy tờ hợp lệ khác theo quy định của Luật đất đai năm 2003 về quyền sử dụng đất thì thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân nơi có đất để yêu cầu giải quyết. Trình tự thủ tục giải quyết tại Uỷ ban nhân dân theo quy định tại khoản 2 Điều này.
– Trường hợp đất đó đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có các giấy tờ hợp lệ theo quy định của Luật đất đai năm 2003 thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân nơi có đất theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 136 Luật đất đai năm 2003 quy định: “Tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết như sau:
1. Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết.
2. Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này được giải quyết như sau:
a. Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết; quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng;
b. Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định giải quyết cuối cùng”.
Trong cả hai trường hợp thì trước khi gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền hoặc Toà án nhân dân, gia đình ông cần phải gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất để được hoà giải theo quy định tại Điều 135 Luật đất đai năm 2003.
Điều 135 Luật đất đai năm 2003 quy định: 
“1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hoà giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở cơ sở.
2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp.
Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hoà giải tranh chấp đất đai.
Thời hạn hoà giải là ba mươi ngày làm việc, kể từ ngày Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nhận được đơn.
Kết quả hoà giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tranh chấp và xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất. Trường hợp kết quả hoà giải khác với hiện trạng sử dụng đất thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chuyển kết quả hoà giải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết theo quy định về quản lý đất đai”.

Hi vọng với những thông tin trên chúng tôi có thể giúp quý khách giải đáp những vấn đề của bạn. Để có thể tư vấn những thông tin tốt hơn, chính xác với từng trường hợp cụ thể. Quý khách có thể liên hệ với văn phòng luật thừa kế Nguyễn Trần và cộng sự tại địa chỉ: Số 186Bis Trần Quang Khải, phường Tân Định, quận 1, Tp.HCM. Hotline: 0977 880 381 – 0943 747 735.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

© 2013 Bản quyền của Nguyễn Trần & Cộng Sự